Đo huyết áp

Giải pháp kiểm soát huyết áp hiệu quả

Microlife

Nhà sản xuất thiết bị y tế hàng đầu thế giới

Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh tim mạch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh tim mạch. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 12 tháng 9, 2013

Những cây cầu trong tim

Những cây cầu trong timTrong giao thông, cây cầu bắc qua không có vai trò nhỏ: kết nối hai bờ sông, làm giảm ùn tắc cho nút giao thông đường ... Ở trung tâm có cầu các bác sĩ phẫu thuật xây dựng để thiết lập lại dòng chảy của máu thông qua các tắc nghẽn mạch máu của những người tị nạn vành.

Khi muốn xây dựng một cây cầu?

Hệ thống mạch vành, cơ tim. Bệnh tim mạch gây ra bởi động mạch vành nội mạc tổn thương, thiệt hại do mảng bám hẹp hoặc khối làm tắc nghẽn mạch máu. Nếu một hoặc nhiều động mạch vành nhánh quy định có thể gây ra cơn đau tim, một trong những nguyên nhân gây tử vong trên thế giới. Điều trị bệnh động mạch vành hoặc cần thiết phải kết hợp nhiều phương pháp: điều chỉnh lối sống, thuốc men, can thiệp mạch vành qua da (nong bóng, kệ sách), phẫu thuật bắc cầu động mạch vành.

Sử dụng can thiệp miễn phí và có phương pháp điều trị tốt nhất, mang lại hiệu quả cao. Tuy nhiên, với những vết thương nhưng vị trí quan trọng, vị trí không thích hợp để can thiệp hoặc thu hẹp lây lan ... nhiều cho các kết quả thử nghiệm giới hạn. Khi đo phẫu thuật bắc cầu động mạch vành là lựa chọn điều trị, mang lại kết quả tốt và mục đích phòng chống dài hạn phù hợp với suy tim, nhồi máu cơ tim. Phẫu thuật bắc cầu động mạch vành đã được chứng minh có thể cải thiện sự sống còn, ngay cả ở những bệnh nhân bị chấn thương nặng như trái động mạch vành chính nghiêm trọng hẹp, động mạch vành hẹp nhanh hơn, làm giảm chức năng co bóp của tim

... Họ đã làm nó như thế nào?

Phần hẹp hoặc bị chặn của các động mạch vành làm giảm lượng máu đi qua thông qua cơ tim. Trong phẫu thuật bắc cầu động mạch vành, clip mạch máu của bệnh nhân riêng (lấy từ các địa điểm khác) được sử dụng như một cây cầu bắc qua thu hẹp. Nơi một nơi kết hợp với nguồn cung cấp máu mạch, kết nối đầu kia của động mạch vành thu hẹp địa điểm sau. Kết quả là, lưu lượng máu qua ghép mạch máu đi đến tắc nghẽn động mạch vành, phục hồi lưu thông.

Có rất nhiều mạch máu trong cơ thể có thể được sử dụng như một cây cầu, mà thường được sử dụng trong động mạch vú (động mạch ở ngực), quay số động mạch (động mạch ở cẳng tay), tĩnh mạch hiển (tĩnh mạch của chân). Sự thông thương động mạch lâu hơn một tĩnh mạch, đặc biệt là trong các động mạch ngực đã được chứng minh với kết quả dài hạn tốt. Sau khi phẫu thuật bắc cầu động mạch vành mười năm, chỉ có 60% bỏ qua tĩnh mạch vẫn còn trường hợp so với 90% trong bỏ qua động mạch trong ngực.

Vành phương pháp bắc cầu sử dụng máy tim phổi nhân tạo cổ điển và các điểm dừng tim. Có thể tim này làm vai trò thay vào đó, để tăng máu cho cơ thể trong khi trái tim ngừng đập. Sau khi hoàn thành cây cầu, trái tim đã đập trở lại. Nhưng khu vực cơ tim thiếu máu cục bộ tái tưới máu sẽ trở lại cây cầu. Hiện nay ở Việt Nam, một số trung tâm tim mạch được áp dụng rộng rãi phương pháp mới, hiệu quả hơn trong phẫu thuật bắc cầu động mạch vành: ứng dụng kỹ thuật của OPCAB (Off-bơm động mạch vành Bypass), động mạch vành phía bắc khi tim vẫn còn đập và không sử dụng cầu nối tim phổi máy tính, giúp tránh một số biến chứng và tai biên có thể xảy ra trong trái tim, phổi, thận, não, rối loạn đông máu ... trong ngực với cả hai động mạch, nơi nào tất cả các câu hỏi, giúp đỡ các địa điểm lâu dài thông suốt, duy trì tiến bộ tích cực sau khi phẫu thuật trong nhiều năm ...

Để cây cầu trị giá phẫu thuật bắc cầu mạch vành trơn đã được chứng minh có thể cải thiện sự sống còn ngay cả ở những bệnh nhân bị chấn thương nghiêm trọng ...

Bệnh nhân phẫu thuật bắc cầu động mạch vành nên hiểu rằng phẫu thuật là không hoàn thành trước khi kết thúc điều trị, nhưng đó là một mốc quan trọng trong cuộc chiến kéo dài với căn bệnh này. Nhưng cây cầu đã giúp tái thiết lập lưu lượng máu qua thu hẹp của động mạch vành hoặc bị chặn, bệnh nhân phải tiếp tục điều trị chống đông liên tục trong mỗi ngày để cầu và ngăn chặn sự tắc nghẽn trong các chi nhánh động mạch vành khác. Thuốc chống đông máu được sử dụng là nhóm aspirin và các thuốc kháng tiểu cầu (chống kết tập tiểu cầu). Aspirin là một trong những an toàn, nhưng vẫn có thể gây tác dụng phụ như thiệt hại cho niêm mạc dạ dày, đôi khi gây loét, xuất huyết tiêu hóa, phân có màu đen. Ngoài ra, do ảnh hưởng của thuốc chống đông máu, aspirin có thể gây chảy máu khó xử lý, da có đốm xuất huyết, mảng bầm máu, xuất huyết não nghiêm trọng hơn (tỷ lệ thất bại cao, khoảng 1:1,000). Bệnh nhân nên uống aspirin để dạ dày nó (sau bữa ăn), không được sử dụng kết hợp với rượu và nên liên hệ với bác sĩ của bạn ngay lập tức sau khi nhận được các dấu hiệu trên. Ngoài ra, bệnh nhân nên duy trì chế độ y tế để hỗ trợ co bóp của tim, làm giảm nhu cầu oxy của cơ tim, cùng với việc điều trị các bệnh mà tăng huyết áp, đái tháo đường ... các rủi ro chính trị các bệnh tim mạch vành, chẳng hạn như rối loạn chuyển hóa lipid, bệnh béo phì ...

Đối với những lý do này, bệnh nhân nên áp dụng lối sống vừa phải (ăn bánh quy giòn, mở, tập thể dục mỗi ngày, không hút thuốc, không uống rượu bia ...), theo dõi các cuộc hẹn, tuân thủ các thể chế điều trị, không tự ý ngưng thuốc dù cảm thấy khỏe mạnh. Đây là những lợi ích sức khỏe cho bệnh nhân.

Thứ Ba, 20 tháng 11, 2012

Bệnh rung tâm nhĩ

Rung tâm nhĩ  (Atrial fibrillation) 
Trong các bệnh tim đập sai nhịp, rung tâm nhĩ là bệnh tim đập sai nhịp xảy ra rất nhiều. 4% các vị tuổi trên 60, và đến 9% các vị trong hạn tuổi 75 bị rung tâm nhĩ. rung tâm nhĩ có thể gây biến chứng suy tim, chết cơ tim, hoặc tai biến mạch máu não (stroke).
Tim gồm 4 buồng: 2 tâm nhĩ phía trên (atria), và 2 tâm thất lớn hơn phía dưới (ventricles). Các luồng điện trong tim phát xuất từ các tâm nhĩ rồi được dẫn truyền xuống các tâm thất. Khi sự dẫn truyền các luồng điện trong tim bình thường, tim đập đều, với nhịp trong khoảng 60-100 mỗi phút. Khi bị rung tâm nhĩ, các luồng điện phát xuất từ tâm nhĩ lộn xộn, và rất nhanh, đến 350-600 nhịp mỗi phút. Nếu các tâm thất tuyệt đối nghe lời các tâm nhĩ, cùng đập nhanh đến vậy thì ta nguy to, nhưng cũng may, các tâm thất chỉ nghe mệnh lệnh truyền xuống từ các tâm nhĩ một phần, cũng đập lộn xộn đấy, song chỉ đập 120-180 nhịp mỗi phút. Như vậy cũng đủ mệt.

Nguyên nhân 

Điện chạy đúng đường thì tốt, trật đường thì “mát”. Luồng điện trong tim cũng vậy, cứ chạy đúng một đường từ tâm nhĩ xuống tâm thất thì tim đập đều, song nếu xẹt tán loạn, lung tung trong tâm nhĩ, sẽ khiến tâm nhĩ rung nhanh và lộn xộn, vạ lây đến tâm thất. Bất cứ tình trạng nào khiến các tâm nhĩ to lên, hoặc làm gián đoạn việc dẫn truyền bình thường của điện trong các tâm nhĩ, đều có thể khiến điện chạy bậy, đưa đến rung tâm nhĩ. Như vậy, rất nhiều nguyên nhân có thể khiến tâm nhĩ bị rung. Chỉ xin kể ra ở đây vài nguyên nhân dễ hiểu hay gây rung tâm nhĩ:
- Bệnh cao áp huyết.
- Các bệnh van tim.
- Chết cơ tim cấp tính (myocardial infarction, “heart attack”).
- Suy tim.
- Bệnh nội tiết: các bệnh suy giáp trạng (hypothyroidism), cường giáp trạng (hyperthyroidism), pheochromocytoma.            
- Độc tính của thuốc: như thuốc chữa suyễn theophylline.
- Uống rượu nhiều quá (acute alcohol ingestion).         

Định bệnh 

rung tâm nhĩ thường hay gây chóng mặt, hồi hộp, khó thở, ngất xỉu (syncope), mệt yếu, đau ngực (angina). Nhưng nhiều người lại không có triệu chứng gì cả, hoặc chỉ có những triệu chứng mơ hồ như mệt, yếu. Khi khám bệnh, bác sĩ cẩn thận bắt mạch và nghe tim, nhất là cho các vị lớn tuổi than yếu, mệt.
Bắt mạch và nghe tim, thấy mạch nhanh, không đều, tim đập lẹ, lung tung, tiếng lớn tiếng bé, chẳng theo nhịp điệu nào cả (irregularly irregular rhythm), ta nghi ngay rung tâm nhĩ. Làm tâm điện đồ (EKG) có thể xác định đúng là rung tâm nhĩ dễ dàng, vì nhịp tim trên tâm điện đồ cũng vậy, nhanh, lộn xộn.
Sau khi xác định bạn đúng bị rung tâm nhĩ, song may mắn tình trạng bạn vẫn ổn định, không cần phải gọi xe cứu thương chở ngay vào bệnh viện, bác sĩ sẽ thăm khám bạn kỹ lưỡng, để tìm nguyên nhân gây rung tâm nhĩ: cao áp huyết, suy tim, uy hoặc cường giáp trạng, ... Cũng xin không quên hỏi bạn có hay uống rượu không nhỉ, những thuốc nào bạn đang dùng (đi khám bệnh, bạn cứ mang hết các thuốc đang dùng ở nhà theo cho tiện).
Sau phần khám bệnh, chúng ta làm một vài thử nghiệm máu: đếm máu toàn diện (complete blood count, viết tắt CBC), đo các chất điện giải căn bản trong người (basic chemistries), xem chất TSH có cao hay thấp, tức bạn có bị suy hoặc cường tuyến giáp trạng? Ta làm thêm siêu âm tim (echocardiogram) cho đầy đủ bạn ạ, tìm xem tâm thất bên trái có còn hoạt động đàng hoàng, tâm nhĩ trái có lớn, và xem trong tâm nhĩ trái có cục máu đông nào ẩn trú trong đó không. Tâm nhĩ trái bị rung, khiến máu hay đông và bám vào đấy, thỉnh thoảng lại bắn ra, theo dòng máu lên óc gây tai biến mạch máu não thì nguy.    

Chữa trị

rung tâm nhĩ khiến tim đập lộn xộn, nhanh đến 120-180 nhịp mỗi phút, có thể đưa đến các biến chứng cấp thời: suy tim, chết cơ tim cấp tính, áp huyết hạ thấp. Đây đúng là những tình trạng khẩn cấp, cần được chữa trị ngay trong bệnh viện, và ta nhờ bác sĩ chuyên khoa tim tức khắc dùng dòng điện tạo lại nhịp đập bình thường cho con tim đang bị rung tâm nhĩ (electrical cardioversion).
Cũng may, đa số những trường hợp rung tâm nhĩ không nguy kịch đến vậy, bạn có thể hơi thấy yếu, mệt thực đấy, nhưng áp huyết bạn ổn định, bạn không đau ngực, không có dấu chứng suy tim, hoặc chết cơ tim cấp tính. Nên ta có thể từ từ trị liệu vấn đề trong phòng mạch. Việc đầu tiên là giúp tim đập chậm lại 60-100 nhịp mỗi phút. Điều này có thể thực hiện được với nhiều thuốc uống (Cardizem, Verapamil, Atenolol, Lopressor, Digoxin, ...).
Giúp tim đập chậm lại không khó, song giúp tim đập đều nhịp trở lại như trước đặt ra nhiều vấn đề cũng như nhiều bàn cãi hơn. Nếu tim mới bị rung tâm nhĩ trong vòng 48 tiếng, ta có thể dùng ngay các thuốc chống thất nhịp (antiarrhythmic drugs) Procainamide, Flecanide, Propafenone, Amiodarone, Sotalol, Ibutilide, hoặc dùng dòng điện (trường hợp không thành công với những thuốc kể trên) để giúp tim đập đều nhịp trở lại. Nhưng nếu rung tâm nhĩ đã xảy ra quá 48 tiếng, triển vọng bị máu đóng cục trong tâm nhĩ trái tăng cao, và khi ta giúp tim đập đều trở lại, cục máu đông trong tâm nhĩ trái có thể bất ngờ bong ra, theo máu lên óc gây tai biến mạch máu não.
Làm thế nào để biết rung tâm nhĩ mới xảy ra, hay đã xảy ra quá 48 tiếng, việc này không dễ, vì nhiều trường hợp rung tâm nhĩ hoàn toàn không gây triệu chứng. Do thế, khi không rõ rung tâm nhĩ đã xảy ra bao lâu, ta nên dùng thuốc chống đông máu Coumadin (warfarin) trong vòng 3 đến 4 tuần lễ, trước khi quyết định đưa nhịp tim trở lại bình thường, bằng thuốc hoặc bằng dòng điện. Sau đó, khi đưa được nhịp tim trở về đường ngay nẻo chánh thành công, ta tiếp tục thuốc chống đông máu Coumadin khoảng 4 tuần nữa, trước khi ngừng thuốc. Còn các thuốc chống thất nhịp Procainamide, Flecanide, Propafenone, Amiodarone, Sotalol, hoặc Ibutilide, dùng để đưa nhịp tim trở về bình thường, thường được tiếp tục thêm khoảng 6-12 tuần, sau đó sẽ ngưng. Dùng lâu những thuốc này có thể bị những phản ứng phụ tai hại, nhiều khi nguy hiểm.
Lắm lúc, đời không quá dễ như ta tưởng. Tim bị rung tâm nhĩ, khi được giúp đập bình thường trở lại như trước, trong tương lai, sẽ còn tái phạm đập tầm bậy nữa hay không? Có con tim sẽ tiếp tục đập đàng hoàng được nhiều năm, cũng có con tim, chỉ... vài phút sau, lại ngựa quen đường cũ, đập lộn xộn, lung tung nữa rồi. Với những con tim cứ hay rung tâm nhĩ trở đi trở lại, người ta còn phân vân, chưa biết có nên giúp nó đập lại bình thường mỗi lần nó đập lộn xộn, hay nếu nó mãi cứng đầu như thế, cứ để mặc nó, chỉ dùng thuốc kiểm soát nhịp tim (như Cardizem, Verapamil, Atenolol, Lopressor, Digoxin), và thuốc chống đông máu Coumadin suốt đời cho người bệnh (để tránh hiểm nguy tai biến mạch máu não do rung tâm nhĩ gây ra). Hoặc nếu rung tâm nhĩ tiếp tục tái phát, gây các triệu chứng, biến chứng quan trọng, dùng thuốc không ăn thua, có thể phải sử dụng đến các phương pháp giải phẫu, radiofrequency catheter ablation cắt bỏ chỗ có luồng điện dẫn truyền bất thường, và đặt một máy điều khiển nhịp tim (pacemaker) giúp tim không đập nhanh bất thường nữa.
Chúng ta cũng nên biết thêm, một số trường hợp tim rung tâm nhĩ, đập lung tung một thời gian, chúng chán, chúng tự động đập lại bình thường, không cần chữa trị gì cả. Nhất là khi rung tâm nhĩ mới xảy ra lần đầu, và siêu âm tim cho thấy tim trông vẫn bình thường. Trường hợp này, nếu tìm được nguyên nhân gây rung tâm nhĩ, chẳng hạn như bệnh cường tuyến giáp trạng (hyperthyroidism), ta chữa bệnh này cho đúng, có khi rung tâm nhĩ sẽ không bao giờ trở lại quấy rầy ta nữa.
Điện đâu cũng có, và cần. Song điện chạy đúng thì tốt, chạy bậy thì mệt. Trong tim cũng vậy. rung tâm nhĩ do điện chạy lung tung, lộn xộn trong các tâm nhĩ, vạ lây đến các tâm thất. Nhiều nguyên nhân gây rung tâm nhĩ, có những nguyên nhân nếu ta tìm ra và chữa trị thích ứng, rung tâm nhĩ sẽ biến mất. Chữa rung tâm nhĩ, việc trước là giúp tim đập chậm lại, sau sẽ tìm cách giúp nó đập đều nhịp trở lại. Vì biến chứng tai biến mạch máu não có thể xảy đến do máu đông bắn ra từ tâm nhĩ bị rung, thường ta phải dùng thêm thuốc chống đông máu Coumadin, có khi suốt đời
BS. Nguyễn Văn Đức

80% người bị đái tháo đường tử vong vì biến chứng tim

Các bác sĩ chuyên khoa nội tiết khẳng định, tổn thương hệ mạch vành, loạn nhịp tim, nhồi máu cơ tim, viêm tắc động mạch chi dưới, là những biến chứng lấy đi gần 80% mạng sống của bệnh nhân đái tháo đường. Triệu chứng này có thể xảy ra trước khi bệnh nhân được chẩn đoán ra bệnh đái tháo đường.
1 in 5 survives, diabetes, heart disease
Nguồn: Canadian diabetes association)
Tiến sĩ Nguyễn Văn Tiến, Giám đốc Bệnh viện Nội Tiết Trung ương cho biết, bệnh nhân đái tháo đường có nguy cơ bị tổn thương hệ thống mạch vành và các chứng đau thắt ngực, loạn nhịp tim, rung nhĩ, nhồi máu cơ tim, suy tim, tai biến mạch máu não, đột tử nhiều gấp 2-4 lần người thường.
“Ngoài ra, họ cũng có khả năng bị viêm tắc động mạch chi dưới nhiều hơn 4 lần so với những người không mắc bệnh”, ông Tiến nói. Các chuyên gia tim mạch cũng cho biết, biến chứng tim mạch nói chung xuất hiện khi động mạch của các mạch máu lớn và vừa bị tổn thương, xơ vữa. Riêng ở bệnh nhân đái tháo đường, quá trình xơ vữa động mạch của các động mạch lớn và vừa xuất hiện sớm hơn, tiến triển nhanh hơn người không mắc bệnh đến hàng chục lần.
Phần lớn các tổn thương mạch máu trong bệnh đái tháo đường dẫn đến rối loạn chuyển hóa lipid, trong đó hiện tượng tăng đường huyết là một trong những nguyên nhân chính làm phát sinh ra bệnh và thúc đẩy bệnh ngày càng trầm trọng hơn. Những rối loạn chuyển hóa lipid này, nếu không được điều trị kịp thời, sẽ phát sinh ra những mảng xơ vữa động mạch và dẫn đến các biến chứng tắc động mạch.
Mặc dù những biến chứng tim mạch trên bệnh nhân đái tháo đường rất nghiêm trọng và xảy ra từ rất sớm, nhưng ý thức tầm soát bệnh và phòng ngừa những biến chứng chưa được quan tâm đúng mức. Tuy nhiên, bệnh đái tháo đường và những biến chứng tim mạch nghiêm trọng này có thể được tầm soát nếu như có biện pháp can thiệp đúng đắn.
Bên cạnh việc kiểm soát chỉ số đường huyết, bệnh nhân cần kiểm soát tốt chỉ số HbA1C và phòng ngừa, điều chỉnh rối loạn mỡ máu có thể gặp phải. Theo Tiến sĩ Lê Trường Giang, Chủ tịch Hội Y tế Cộng đồng TP HCM, người dân vẫn có thể có cách phòng nguy cơ dẫn đến biến chứng. “Cụ thể là ngưng hút thuốc, tăng cường hoạt động thể lực, kiểm soát tốt đường huyết và điều trị cao huyết áp”, ông Giang nói.
Bà Đỗ Thị Ngọc Diệp, Giám đốc Trung tâm Dinh dưỡng TP HCM cho rằng, bệnh nhân cần thay đổi chế độ ăn uống như ăn ít lòng đỏ trứng, thịt mỡ, nội tạng động vật… vì có nhiều cholesterol làm tăng nguy cơ xơ vữa mạch. Ăn nhiều chất xơ vì xơ làm cholesterol không hấp thu vào ruột, giúp cải thiện rối loạn chuyển hóa mỡ. Chất xơ có nhiều trong lúa mạch, đậu, trái cây, rau củ. Giảm rượu bia, tích cực giảm cân khi thừa cân, cũng là cách tốt để giảm biến chứng nguy hiểm từ bệnh đái tháo đường.
Ngoài ra, việc duy trì chế độ dinh dưỡng đầy đủ và cân đối nhằm ổn định đường huyết bằng nguồn dinh dưỡng dành riêng cho người đái tháo đường như DiabetCare là một trong những phương cách tối ưu giúp người bệnh đái tháo đường có được một trái tim khỏe mạnh vì Diabetcare có chứa các thành phần bột đường hấp thu chậm, hệ chất béo PUFA, MUFA tốt cho tim mạch, bổ sung chất xơ và đặc biệt sản phẩm đã được kiểm nghiệm lâm sàng tại TTDD với chỉ số đường huyết thuộc nhóm rất thấp( GI=31.5).
Trích Cao Quang - VNExpress